Рубрики
Lãnh đạo và quản trị

Doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều kiện để thành lập doanh nghiệp mới

Việc thành lập một doanh nghiệp vừa và nhỏ có lẽ là ước muốn của nhiều người. Tuy nhiên thì để thành lập được một doanh nghiệp không phải là điều dễ dàng. Và không phải nói muốn thành lập là liền có thể thành lập được. Nếu như bạn muốn thành lập doanh nghiệp, dù là mô hình vừa hay nhỏ thì bạn cũng cần phải đảm bảo được những điều kiện nhất định.

Đáp ứng điều kiện về tên khi thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ

Những điều kiện về khoản đặt tên mà bạn cần phải tuân theo như sau:

  • Bất cứ doanh nghiệp nào khi thành lập, đầu tiên cũng cần phải đặt tên cho chính mình. Đặt tên không chỉ để đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh. Sau này khi doanh nghiệp phát triển còn ảnh hưởng đến thương hiệu của mình.
  • Đặt tên của doanh nghiệp cần phải tuân theo Luật doanh nghiệp. Đặt tên của doanh nghiệp vừa và nhỏ phải phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam.
  • Khi đặt tên của doanh nghiệp thì không được trùng với tên của doanh nghiệp khác. Khoanh vùng ở những doanh nghiệp nằm trong lãnh thổ của Việt Nam.
  • Tên doanh nghiệp cần phải đảm bảo là phát âm được. Và quan trọng là trong tên của doanh nghiệp cần phải đáp ứng được đủ hai thành tố. Đó là loại hình doanh nghiệp cộng với tên của doanh nghiệp.

Những điều kiện về ngành nghề kinh doanh khi thành lập công ty

Khi bạn quyết định thành lập một công ty, thì việc mà bạn cần phải làm hàng đầu đó chính là xác định về ngành nghề kinh doanh. Bạn cần phải kinh doanh những ngành nghề được phép hoạt động tại Việt Nam. Những ngành nghề đó không thuộc vào những ngành bị pháp luật cấm.

Sau khi bạn đã xác định được ngành nghề mà mình định kinh doanh. Sau đó thì bạn cần phải tiến hành kiểm tra lại xem ngành đó có mã số bao nhiêu trong hệ thống ngành của Việt Nam. Điều này sẽ giúp cho bạn tránh việc đăng ký không đúng ngành nghề trong giấy phép kinh doanh.

Khi bạn lựa chọn đăng ký ngành nghề kinh doanh thì bạn sẽ có cho mình hai lựa chọn. Đó chính là ngành nghề không cần điều kiện kinh doanh khi hoạt động. Thứ hai là ngành nghề kinh doanh cần có điều kiện khi hoạt động và tuân thủ theo những quy định đã đặt ra.

Quy định về trụ sở kinh doanh khi mở doanh nghiệp vừa và nhỏ

Sau khi đã xác định được tên cũng như là xác định được ngành nghề mà mình sẽ kinh doanh. Việc tiếp theo mà bạn cần làm đó chính là xác định về địa điểm đặt trụ sở kinh doanh. Nếu bạn không đáp ứng được những điều kiện về trụ sở thì cũng rất khó để thành lập doanh nghiệp. Một số những điều kiện về trụ sở như sau:

  • Địa điểm mà bạn lựa chọn đặt làm trụ sở kinh doanh bắt buộc phải nằm ở trong lãnh thổ của Việt Nam.
  • Bạn cần phải cung cấp đầy đủ những thông tin liên quan đến trụ sở. Như là số nhà, tên đường, Quận, Thành phố. Và cung cấp thêm phương thức liên lac như là số điện thoại.

Có một điều mà bạn cần phải lưu ý đó chính là hiện nay thì trong Luật doanh nghiệp đã quy định. Các văn phòng đại diện hay là trụ sở của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không được phép đặt ở các khu chung cư. Vậy nên nếu bạn muốn mở công ty thì nên lựa chọn vị trí kĩ càng.

Vốn của doanh nghiệp khi mới mở

Khi bạn mở công ty, dù là công ty lớn hay nhỏ thì vốn kinh doanh là một yếu tố quan trọng và quyết định. Đối với mảng vốn doanh nghiệp, sẽ chia thành hai loại, đó là vốn điều lệ và vốn pháp định.

  • Vốn pháp định là loại vốn bắt buộc phải có. Loại vốn này là vốn tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải có để mở công ty. Và nó được pháp luật quy định cho từng ngành nghề kinh doanh của các công ty. Số vốn pháp định này bắt buộc phải được kỹ quý tại ngân hàng. Trong trường hợp nó thuộc loại tài sản khác thì sẽ được xác nhận bởi những cơ quan có thẩm quyền.
  • Vốn điều lệ là loại vốn không được quy định là áp dụng cho toàn bộ các mô hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian mà bạn mới thành lập công ty thì nên quan sát về sự tăng giảm của vốn điều lệ cho các loại hình doanh nghiệp.

Nguồn sưu tầm

Рубрики
Lãnh đạo và quản trị

Chế độ sau khi nghỉ việc Người lao động sẽ được hưởng những gì

Không chỉ trong thời gian làm việc bạn mới được hưởng những chế độ ở trong công ty. Mà rất nhiều những trường hợp, sau khi nghỉ việc vẫn được hưởng nhiều khoản trợ cấp. Những khoản trợ cấp này thuộc vào trong chế độ sau khi nghỉ việc. Kế toán viên cũng cần nắm bắt được những vấn đề này để chi trả chế độ cho người lao động.

Trợ cấp thôi việc là chế độ sau khi nghỉ việc của người lao động

Điều kiện người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc

Trong những trường hợp dưới đây, người sử dụng lao động sẽ có nhiệm vụ chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động(NLĐ). Khi NLĐ đã có thời gian làm việc tại công ty liên tục trên 12 tháng và sau đó mới thôi việc. Những trường hợp như sau:

  • NLĐ hết hạn hợp đồng với doanh nghiệp
  • Đã hoàn thành xong công việc đối với bên sử dụng lao động
  • Cả hai bên cùng thỏa thuận tiến hành chấm dứt hợp đồng lao động
  • NLĐ bị kết án và bị giam trong tù trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động.
  • NLĐ chết hoặc là bị mất tích, bị cấm hành vi dân sự
  • Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng, nhưng có lí do chính đáng
  • Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật.

Mức hưởng trợ cấp thôi việc của NLĐ

  • Tiền trợ cấp thôi việc của NLĐ được tính như sau. Cứ mỗi năm làm việc thì NLĐ sẽ được trợ cấp môt nửa tháng tiền lương. Trong đó thì tiền lương để tính trợ cấp thôi việc sẽ là tiền lương trung bình ở trong hợp đồng lao động đã quy định. Là số tiền của 6 tháng liền kế trước khi NLĐ nghỉ việc.
  • Tính thời gian hưởng trợ cấp như sau. Là tổng số thời gian NLĐ đã làm việc cho doanh nghiệp. Lấy số thời gian này trừ đi thời gian mà NLĐ đã tham gia BHTN và thời gian NLĐ đã chi trả cho trợ cấp thất nghiệp

Chế độ của Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ sau khi nghỉ việc của NLĐ

Điều kiện được hưởng chế độ BHTN

  • NLĐ chấm dứt hợp đồng với doanh nghiệp theo đúng điều khoản trong hợ đồng và theo quy định của pháp luật. Trừ những trường hợp chấm dứt hợp đồng trái quy định. Hoặc là những trường hợp đã được hưởng lương hưu và trợ cấp mất sức lao động.
  • Đã đóng bảo hiểm liên tục trong vòng 12 tháng trở lên trước 24 tháng kết thúc hợp đồng. Đối với hợp đồng có thời hạn hoặc không xác định thời hạn.
  • Đã đóng bảo hiểm liên tục trong vòng 12 tháng trở lên trước 36 tháng kết thúc hợp đồng. Đối hợp người làm thời vụ hoặc công việc có từ 3 đến 12 tháng trở lên
  • Đã nộp hồ sơ hưởng BHTN trong vòng 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động
  • Chưa tìm được việc làm kể từ 15 ngày, sau khi đã nộp hồ sơ hưởng BHTN. Trừ những trường hợp như là đi nghĩa vụ Quân sự, học tập trên 12 tháng.

Mức hưởng BHTN của NLĐ khi nghỉ việc

Hàng tháng, NLĐ sẽ được hưởng 60% mức tiền lương trung bình hàng tháng của  tháng trước khi thất nghiệp. Và đương nhiên là chế độ lương hưởng NLĐ không được quá 7.450.000 đồng trên 1 tháng.

Bảo hiểm xã hội một lần là chế độ sau khi nghỉ việc

Điều kiện hưởng BHXH

  • Đối với chế độ BHXH thì thời gian giải quyết sẽ lâu hơn so với BHTN hay là trợ cấp thôi việc.
  • NLĐ khi đã tham gia vào BHXH, sau một năm nghỉ việc không đóng BHXH. Và thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm theo yêu cầu. Như vậy thì đối tượng NLĐ này sẽ được hưởng BHXH một lần.

Mức hưởng Bảo hiểm xã hội một lần của NLĐ

Đối với mức hưởng BHXH một lần của NLĐ khi nghỉ việc sẽ được tính như sau:

  • 1,5 tháng với tiền lương trung bình khi đóng BHXH đối với những đợt đóng trước năm 2014
  • 2 tháng tiền lương trung bình khi đóng BHXH với những đợt đóng từ năm 2014 trở đi
  • Còn đối với trường hợp mà NLĐ đóng BHXH chưa đủ 1 năm. Trường hợp này thì mức hưởng sẽ bằng số tiền mà NLĐ đã đóng. Mức hưởng tối đa sẽ bằng 2 tháng mức đóng tiền BHXH trước đó.

Nguồn sưu tầm

Рубрики
Lãnh đạo và quản trị

Bí quyết giúp lãnh đạo rèn luyện trực giác nhanh nhạy, chính xác

Đối với các chủ doanh nghiệp hay lãnh đạo đội nhóm, quyết định dựa vào lý trí là đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, việc tách biệt tình cảm trong công việc lại là không dễ, muốn đạt được cần sự luyện tập trí óc.

Nếu theo dõi chương trình “Thương vụ bạc tỷ”, nhiều khán giả sẽ nhận ra rằng có lúc, các shark chấp nhận đầu tư vào một start-up nhiều khi chỉ vì họ cảm thấy tiềm năng ở đội ngũ sáng lập. Đó có phải là những quyết định cảm tính của người “nhiều tiền”, thích gì đầu tư nấy? Câu trả lời là không.

Tất cả đều dựa vào trực giác và lý trí mách bảo họ đó là những con người có thẻ dẫn dắt sự thay đổi, tạo ra giá trị nào đó thực sự cần cho người tiêu dùng và thị trường. Theo ông Huỳnh Bảo Tuân – chuyên gia tư vấn về Tối ưu hóa vận hành, cũng như am hiểu về lĩnh vực thần kinh học và Mindfulness (Chánh Niệm), trực giác nằm ở tầng vô thức, thuộc về 80% phần não mà đa phần con người ta chưa thể hoàn toàn khai phá khả năng. Trực giác có sự ảnh hưởng mạnh mẽ, có khả năng dẫn dắt, thôi thúc tới việc giải quyết vấn đề của chúng ta mà con người không lý giải được. Vậy các nhà lãnh đạo luyện tập trực giác của mình ra sao?

1. Trực giác có quan hệ mật thiết với trí thông minh cảm xúc

Hai nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ là Peter Salovey và John D.Mayer đã chỉ ra rằng trực giác là tiền đề để hình thành khả năng am hiểu bản thân của mỗi con người, một trong năm yếu tố tạo nên trí thông minh cảm xúc bên cạnh khả năng kiểm soát bản thân, động lực, sự cảm thông và các kỹ năng xã hội. Đi sâu hơn, trực giác và EI thực chất đều cùng liên quan tới khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người.

Năm 2011, Daniel Goleman, một nhà báo chuyên về khoa học nghiên cứu não bộ và hành vi con người, đồng thời cũng là người đã chỉ ra mô hình 6 phong cách lãnh đạo nổi tiếng, đã đưa ra một phân tích khẳng định trí thông minh cảm xúc chiếm từ 80-90% năng lực đặc trưng của những nhà lãnh đạo xuất sắc.

Trong đó có thể kể Steve Jobs, một người giải quyết 80% công việc của mình bằng trực giác. Ông đặc biệt thấu hiểu cảm xúc của khách hàng. Chính vì thế mà Steve Jobs đã đưa ra nhiều quyết định “lạ” dưới thời của mình như quyết tâm không sản xuất bút cảm ứng, bởi ông cho rằng khách hàng không dùng tới. Hoặc những thiết kế sản phẩm của ông đều rất “ngược” so với những Samsung, Nokia lúc bấy giờ bởi ông thấu cảm nhu cầu và cảm xúc của khách hàng khi sử dụng sản phẩm công nghệ cầm tay

Trực giác và cả trí thông minh cảm xúc càng đặc biệt quan trọng đối với các nhà lãnh đạo trong quản lý và dẫn dắt sự thay đổi, thời điểm cần đặc biệt tạo được niềm tin và sự gắn kết trong đội ngũ.

2. Làm thế nào để tăng cường trực giác

Như đã nói ở trên, trực giác nằm trong vùng não vô thức. Chúng ta không thể nhận biết nó được nhưng có thể “tạo điều kiện” để não có thể sử dụng và phát huy hoạt động của trực giác. Ông Tuân cho rằng cách tốt nhất hiện nay để tăng cường trí thông minh cảm xúc, bao hàm cả khả năng tự nhận thức bản thân và trực giác, đó là qua thiền định (meditation).

Theo đó, trong cuộc sống hàng ngày, bộ não chúng ta luôn tiếp nhận, dù chủ động hay bị động, rất nhiều thông tin khác nhau, khiến nó luôn phải hoạt động (kể cả trong giấc ngủ), cũng như bị quấy rối, khó nhìn ra mọi lý lẽ.

Thiền có thể khống chế được việc não bị quấy rối như vậy, giúp con người ta tập trung vào suy nghĩ của mình và tránh để tâm trí rơi vào những suy nghĩ mang tính chất tiêu cực và dẫn đến những hành động cảm tính.

Phương pháp thiền phổ biến nhất hiện này là thiền chỉ, tức là chúng ta chỉ tập trung vào một sự vật, sự việc duy nhất như hơi thở, bóng đèn…, từ đó làm đầu óc bớt suy nghĩ mông lung mà nhìn được cơ chế vùng não cảm xúc bị kích thích và tác động đến suy nghĩ của mình, nhờ đó mà tư duy cũng sâu sát hơn những người không thiền.

Thiền định đã tồn tại suốt nhiều trăm năm qua nhưng lại luôn gắn liền với những yếu tố tâm linh, khiến nhiều người ái ngại khi áp dụng. Tuy nhiên, những năm gần đây, chính các nhà khoa học thần kinh đã bắt đầu nghiên cứu thiền định một cách có hệ thống, nhằm tìm ra cách thức dùng suy nghĩ để thay đổi cấu trúc bộ não, rồi sau đó, não bộ lại tác dụng ngược lại cách suy nghĩ của con người. Ví dụ như với một người chơi violin từ bé, các nhà khoa học nhận ra phần não bộ về nhạc cảm họ của rất phát triển, hơn người bình thường, và từ đó, họ cũng có những tư duy về âm nhạc rất sâu sắc và nhạy cảm.

Khi đầu óc được khơi thông qua việc thực hành thiền định, con người dễ nhìn được ra trực giác của mình, từ đó phát triển trí thông minh cảm xúc. Nghiên cứu của Trường Kinh doanh Daniels tại Đại học Denvers (Mỹ) chỉ ra rằng người lãnh đạo có EI càng cao lại càng thường tư duy bằng trực giác. Họ dễ hợp tác hơn, sẵn sàng lắng nghe người khác hơn chỉ nói và ra lệnh, khiến cho mọi nhân viên đều góp phần tạo nên giải pháp.

Trong khi đó, phân tích năm 2014 của Claudio Fernández-Aráoz, diễn giả quốc tế và chuyên gia toàn cầu về tài năng và lãnh đạo người Argentina, người được Tạp chí BusinessWeek (thuộc Bloomberg) xếp hạng là một trong những nhà tư vấn điều hành có ảnh hưởng nhất trên thế giới trên hơn 500 giám đốc điều hành cấp cao cho thấy các nhà lãnh đạo EQ cao có nhiều khả năng thành công hơn những giám đốc điều hành bình thường khác.

Cụ thể, khi những người được khảo sát thể hiện mình xuất sắc về kinh nghiệm và IQ nhưng có EI thấp, tỷ lệ thất bại của họ lên tới 25%. Tuy nhiên, những người có trí tuệ cảm xúc cao kết hợp với ít nhất một trong hai yếu tố khác (kinh nghiệm hoặc IQ) thì tỷ lệ chỉ thất bại chỉ ở mức 3%-4% trường hợp.

Nói cách khác, trí tuệ cảm xúc cao cùng với IQ cao hoặc kinh nghiệm dày dặn là một bảo chứng chắc chắn cho sự thành công. Còn nếu lãnh đạo chỉ thông minh hoặc có kinh nghiệm mà thiếu trí tuệ cảm xúc có nhiều khả năng họ sẽ thất bại.

Trước khi trở thành một nhà kinh doanh, một CEO lỗi lạc của Apple, Steve Jobs cũng đã bỏ ra khoảng thời gian 3 năm để đi thực hành thiện đình ở Nepal, Ấn Độ. Hiện nay ở nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn, thiền định cũng được đưa vào như một khóa đào tạo lãnh đạo bắt buộc, nhằm giúp những chủ doanh nghiệp, lãnh đạo đội-nhóm có thể loại bỏ lo lắng, đa nghi, nhạy cảm, khơi thông được trực giác của mình và tăng EI.

Trong đó, có thể kể đến khoá học Search Inside Yourself của Google, hoặc khoá học thiền định mà Tập đoàn FPT đang áp dụng cho các nhân viên của mình…

3. Áp dụng trực giác trong phong cách lãnh đạo

Hiện nay rất nhiều lãnh đạo đề cao vai trò của dữ liệu, tức là trước mọi quyết định, họ đều dựa vào rất nhiều những bản báo cáo và những nghiên cứu để có được tư duy và trực giác tốt nhất. Điều này không sai, đặc biệt nếu lãnh đạo đó làm trong mảng các mảng liên quan đến vận hành (operation), quản lý chất lượng…

Tuy nhiên, đối với những lãnh đạo phụ trách về chiến lược, hay thị trường, đôi khi trực giác của một mình lãnh đạo là không đủ, mà họ cần tôn trọng trực giác của những người khác trong đội-nhóm và có phương pháp giảm xung đột giữa các trực giác, giữa các bộ não với những tư duy khác nhau, thông qua những phương pháp thảo luận mới. Chẳng hạn, lãnh đạo thay vì ngay đầu buổi họp nói ra ngay trực giác của mình, thì có thể bắt đầu bằng những câu hỏi gọi mở về sự thay đổi của hệ sinh thái kinh doanh, xu hướng của tương lai… để thăm dò xem có bao nhiêu người đang có cùng trực giác với mình, cũng như tăng cường sự ảnh hưởng trực giác của mình lên các thành viên khác.

Điều này cũng phản ánh sự lên ngôi của phong cách lãnh đạo định hướng, lãnh đạo dẫn dắt hiện nay. Tuy nhiên, trong những trường hợp gấp gáp, cần xử lý những vấn đề khẩn cấp, không có nhiều thời gian để bàn thảo và định hướng, người lãnh đạo vẫn có thể áp dụng phong cách độc đoán/độc tài để sớm có hành động. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến hình thành chiến lược thường không nằm trong nhóm công việc gấp gáp như vậy.

Trực giác con người khó nói được khái niệm đúng, sai mà nó phụ thuộc vào kết quả mà quyết định bằng trực giác ấy đem lại. Cái quan trọng nhất của trực giác vẫn là quá trình tư duy, giữ cho suy nghĩ của nhà lãnh đạo không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc, giúp bộ não trở nên mạnh mẽ hơn, thông suốt hơn.

Nguồn sưu tầm

Рубрики
Lãnh đạo và quản trị

5 sai lầm kinh điển nhất cần tránh trong làm việc nhóm

Trong các môn thể thao tập thể, đội chiến thắng thường có đội hình tốt hơn, các thành viên hỗ trợ nhau, huấn luyện viên dẫn dắt, chỉ bảo. Vậy những đội nhóm này có xuất hiện một cách thần kỳ không? Không! Đó là kết quả của tinh thần đồng đội, sự ăn ý, kinh nghiệm, kỹ năng và sự rèn luyện liên tục.

Điều này cũng hoàn toàn đúng trong hoạt động kinh doanh. Một đội nhóm tốt không những phải đảm bảo tất cả những nhân tố cần thiết mà còn phải tránh được 5 thất bại kinh điển sau đây:

1. Thất bại trong xây dựng tính tương thích trong nhóm

Sự tương thích thường không được chú ý đến khi xây dựng một nhóm. Đa số mọi người có xu hướng ghép những người có kỹ năng và kinh nghiệm tốt vào với nhau và hy vọng họ tạo ra kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, sự phù hợp giữa con người với con người, sự ăn ý và động lực mới là đòn bẩy đích thực. Để xây được sự tương thích trong đội nhóm, người lãnh đạo nên sử dụng các công cụ đánh giá để hiểu về tính cách, bản chất hành vi và khuynh hướng làm việc của từng cá nhân.

2. Thất bại trong xác lập mục tiêu

Khi chưa xác lập mục tiêu rõ ràng, nhóm sẽ không có hoạt động cụ thể để thực hiện. Khi trong tay bạn là một nhóm những người có quan điểm khác nhau, họ có xu hướng thảo luận lan man. Việc lập mục tiêu giúp các cá nhân tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể nhờ đó mang lại hiệu quả làm việc. Hãy chắc rằng các mục tiêu của nhóm được truyền đạt rõ ràng đến mọi thành viên và mọi người biết được kết quả cần đạt được.

3. Thất bại trong quy trình ra quyết định

Công việc của người lãnh đạo là tập trung, khích lệ và đưa ra những quyết định cứng rắn khi cả nhóm không thể thống nhất với nhau. Hãy lập một quy trình tiêu chuẩn giúp đưa ra quyết định khách quan. Để cả nhóm biết khi họ có quyền đưa ra quyết định, và nếu nhóm không đưa ra được một quyết định đồng thuận, người lãnh đạo cần tham gia vào quá trình đó. Nếu không đạt được quyết định, người lãnh đạo phải có khả năng tự quyết định.

4. Thất bại trong xác lập kỳ vọng

Từ đầu, người lãnh đạo cần đặt ra chính xác những kỳ vọng ở cả nhóm cũng như đối với từng thành viên. Ví dụ, bạn nói với cả nhóm rằng bạn khuyến khích sự hợp tác và mạo hiểm thông minh. Khi nhóm nghe thấy điều này, họ biết rằng mình được kỳ vọng làm việc cùng nhau, được mạo hiểm và thử nghiệm những phương án khác nhau để đạt kết quả tốt hơn.

5. Thất bại trong việc nắm bắt thông tin

Việc tạo nên một môi trường trong đó các thành viên được góp tiếng nói một cách thoải mái và trung thực rất quan trọng. Thông tin trong đội nhóm cần phải được thông suốt và tôn trọng, như vậy nhóm mới có thể đối thoại trực tiếp với ít bất đồng nhất.

Nguồn sưu tầm

 

Рубрики
Lãnh đạo và quản trị Tài chính

Quản trị tài chính là gì? Tổng quan về hoạt động tài chính của doanh nghiệp

Quản trị tài chính nghe qua có vẻ đơn giản là quản lý dòng tiền vào ra nhưng sự thực, hầu hết các giám đốc đều chưa biết cách quản lý tài chính hiệu quả.

I. Quản trị tài chính doanh nghiệp là gì?

Quản trị tài chính doanh nghiệp (Financial Management) trong kinh tế học là việc lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo, kiểm soát các hoạt động tài chính ví dụ như: mua sắm, sử dụng các quỹ tài chính của doanh nghiệp vào các hoạt động cần thiết.

Quản trị tài chính doanh nghiệp từ xưa đã gắn bó liền với tài chính kế toán. Nó được thể hiện trong việc quản lý các báo cáo tài chính. Việc quản trị tài chính trong doanh nghiệp cần phải áp dụng các nguyên tắc quản lý chung cho các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp.

Quản trị tài chính doanh nghiệp là một trong những công việc quan trọng của người quản lý doanh nghiệp bởi quản trị tài chính tốt không chỉ giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận mà còn đưa doanh nghiệp vượt đà phát triển.

II. Mục tiêu của quản lý tài chính

Quản trị tài chính nghĩ rộng ra là việc kiểm soát dòng tiền vào ra của doanh nghiệp và việc phân bổ các nguồn tài chính sao cho phù hợp. Mỗi doanh nghiệp đều có những mục tiêu khác nhau trong từng thời kỳ phát triển. Dưới góc độ các nhà kinh tế hiện nay thì người ta thường đề ra hai mục tiêu cơ bản.

– Tối đa hóa chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty có lãi hay không? Tuy nhiên, nếu chỉ có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế thì chưa hẳn đánh giá được giá trị của cổ đông doanh nghiệp, chỉ tiêu này không nói lên được doanh nghiệp phải bỏ ra những gì để có được lợi nhuận cực đại. Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu nhằm tăng thêm vốn góp rồi dùng số tiền huy động được để đầu tư vào trái phiếu thu lợi nhuận, lợi nhuận sẽ gia tăng tuy nhiên lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lượng cổ phần phát hành tăng. Do đó, cần bổ sung thêm chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên vốn cổ phần.

– Tối đa hóa lợi nhuận trên vốn cổ phần: Mục tiêu này có thể bổ sung hạn chế trên của mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, vẫn có một số hạn chế nhất định như không xét đến yếu tố thời giá tiền tệ và yếu tố rủi ro. Vì vậy mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu được xem là mục tiêu thích hợp nhất của quản trị tài chính công ty vì nó chú ý nhiều yếu tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.

III. Bảy chức năng của quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp. Chức năng quản trị tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nguồn nhân lực.

Nếu xét riêng về chức năng của quản trị tài chính, có thể xét đến 7 chức năng sau:

  1. Ước tính các yêu cầu về vốn

Người quản trị tài chính doanh nghiệp phải lập dự toán liên quan đến các yêu cầu về vốn của công ty. Điều này sẽ phụ thuộc vào chi phí và lợi nhuận dự kiến của các chương trình với chính sách trong tương lai. Các ước tính phải được thực hiện một cách đầy đủ để có thể tăng khả năng kiếm tiền của doanh nghiệp.

  1. Xác định thành phần vốn

Khi dự toán đã được thực hiện, cơ cấu vốn phải được quyết định. Điều này liên quan đến phân tích nợ ngắn hạn và dài hạn. Điều này sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn chủ sở hữu của một công ty đang sở hữu và các quỹ bổ sung phải được huy động từ bên ngoài.

  1. Lựa chọn nguồn vốn

Để có thể kiếm thêm lợi nhuận, một doanh nghiệp cần phải đưa ra nhiều lựa chọn như:

  • Phát hành cổ phiếu và trái phiếu
  • Các khoản cho vay được lấy từ ngân hàng và các tổ chức tài chính
  • Tiền gửi công khai được rút ra như hình thức trái phiếu

Lựa chọn yếu tố sẽ phụ thuộc vào giá trị tương đối và mức độ thiệt hại của từng nguồn và thời gian tài trợ.

  1. Đầu tư của các quỹ

Người quản lý phải quyết định phân bổ tiền vào các dự án có lợi nhuận, nghĩa là mang về doanh thu lớn để có sự an toàn về đầu tư và lợi nhuận thường xuyên của những người làm kinh tế.

  1. Quăng bỏ thặng dư

Quyết định về lợi nhuận ròng phải được thực hiện bởi người quản trị tài chính. Điều này có thể được thực hiện theo 2 cách dưới đây:

  • Tuyên bố cổ tức: Bao gồm việc xác định tỷ lệ cổ tức và các lợi ích khác như tiền thưởng.
  • Lợi nhuận giữ lại: Phụ thuộc vào kế hoạch mở rộng, đổi mới, đa dạng hóa của công ty.
  1. Quản lý tiền mặt

Người chịu trách nhiệm quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải đưa ra quyết định liên quan đến việc quản lý tiền mặt. Tiền mặt được yêu cầu cho nhiều mục đích như thanh toán tiền lương, tiền điện nước, thanh toán chủ nợ, đáp ứng các khoản nợ tới hạn, duy trì cổ phiếu, mua nguyên vật liệu…

  1. Kiểm soát tài chính

Người quản lý tài chính doanh nghiệp không chỉ lập kế hoạch sử dụng quỹ tài chính mà còn phải kiểm soát tài chính kinh tế. Điều này có thể được thực hiện thông qua nhiều kỹ thuật như phân tích tỷ lệ dự báo tài chính, chi phí và kiểm soát lợi nhuận…

IV. Các mức độ quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính có nhiều mức độ khác nhau tương ứng là nội dung quản lý, công cụ hỗ trợ cũng khác nhau.

Mức thô sơ: Mục đích là để lập hóa đơn tài chính hoặc báo cáo thuế

Mức căn bản: Đưa ra tất cả các báo cáo tài chính và quản trị theo yêu cầu kiểm toán đòi hỏi hoặc nhu cầu quản lý căn bản của doanh nghiệp liên quan đến tiền hàng.

Mức nâng cao: Ra được các báo cáo phân tích tài chính và mô hình tài chính trên quy mô tổng hợp nhiều chi nhánh và truy cập mọi lúc, mọi nơi trên thiết bị di động (điện toán đám mây/ di động). Có khả năng xử lý nhanh chóng khối lượng dữ liệu lớn và bảo vệ an toàn dữ liệu gần như tuyệt đối.

V. Bốn vấn đề khó khăn khi quản trị tài chính doanh nghiệp

Cũng giống với công việc quản trị doanh nghiệp, quản lý tài chính thực tế gặp phải không ít khó khăn từ việc dữ liệu không chính xác, thiếu nhân sự đến công cụ hạn chế…

Theo khảo sát, có 4 khó khăn điển hình nhất trong công việc quản lý tài chính là:

Quản lý nguồn thu, nguồn chi căn cứ trên ước lượng, dự đoán, thiếu phân tích nên không thấy hết nguồn thu, không cắt giảm được chi phí.

Kiểm soát công nợ chưa thường xuyên, chặt chẽ, chưa có chính sách xử lý nợ rốt ráo dễ dẫn đến thiếu tiền.

Kiểm soát không chặt chẽ vật tư hàng hóa, xuất nhập tồn kho, trên đường đi, hàng gửi làm lãng phí vốn.

Không có kế hoạch tài chính, thậm chí không kiểm soát được dòng tiền, kế hoạch thu trả nợ.

Những khó khăn này đều có thể giải quyết dễ dàng bằng phần mềm kế toán online có kết hợp quản lý thu chi nội bộ.

Nguồn sưu tầm

Рубрики
Blog DDP Lãnh đạo và quản trị

Tiết lộ 8 cách quản lý chi phí kinh doanh tốt hơn

Để tiết kiệm chi phí, doanh nghiệp không thể thực hiện theo cách cắt giảm chi phí này hoặc chi phí khác. Để đạt được kết quả lâu dài, doanh nghiệp có thể tham khảo 8 mẹo sau để quản lý chi phí kinh doanh tốt hơn.

Theo ước tính, hầu hết các công ty đều đang lãng phí 30% ngân sách hàng năm cho các hoạt động/ mặt hàng không có bất kỳ tác động nào đến khách hàng của họ cả. Việc cắt giảm chi phí có thể làm cho các số liệu đẹp hơn trong ngắn hạn nhưng ảnh hưởng tiêu cực lại kéo dài trong dài hạn. Nên việc quản lý chi phí kinh doanh được lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm hơn cả!

Quản lý chi phí kinh doanh nên là chiến lược dài hạn của doanh nghiệp

1. Hiểu rõ cấu trúc doanh thu chi phí của doanh nghiệp

Đây là mục quan trọng nhất để quản lý chi phí kinh doanh hiệu quả. Bởi có rất nhiều chủ doanh nghiệp không nắm giữ thông tin chính xác về chi phí thực tế của họ.
Khi tìm cách quản lý chi phí của mình, trước tiên, một công ty phải xác định nguồn doanh thu của mình: bao nhiêu từ việc bán sản phẩm và dịch vụ? Đó là những khách hàng chi tiêu cao nhất? Sau đó, công ty cần tìm ra những chi phí cụ thể có liên quan đến việc tạo ra nguồn doanh thu.

Cuối cùng, xác định chính xác những loại chi phí liên quan và chi phí không liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra doanh thu.

2. Giảm xung đột giữa các phòng ban trong công ty

Bước đầu tiên, hãy vẽ sơ đồ thể hiện quy trình làm việc cơ bản của công ty bạn. Công việc này giúp người quản lý hiểu cách mỗi bộ phận được vận hành như thế nào cũng như cách thức phối hợp hoạt động giữa các bộ phận với nhau. Ví dụ, làm thế nào để kho hàng có hiệu quả bán hàng?

Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, các bộ phận đều bị ảnh hưởng bởi các bộ phận không phải cách này thì sẽ theo cách khác. Vì vậy, để giảm bớt sự phức tạp trong quy trình hoạt động, chủ doanh nghiệp phải liên tục đặt câu hỏi tại sao công việc được thực hiện và làm thế nào nó có thể được thực hiện hiệu quả hơn.

Khi đã có cái nhìn tổng quan về quy trình hoạt động của doanh nghiệp, có thể bạn sẽ biết hoạt động nào không cần thiết có thể lược bỏ để cắt giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.

3. Bổ sung kỹ năng cho nhân viên

Đa phần, mọi nhân viên đều mong muốn làm được các công việc có hiệu quả để giúp công ty thành công. Chính vì vậy, doanh nghiệp có thể tăng cường đào tạo nhân viên trong việc ra quyết định, xây dựng đội ngũ và giải quyết vấn đề để họ có thể kiểm soát chi phí của mình tốt hơn.

Đặc biệt trong thời kỳ suy thoái, công ty sẽ gặt hái được nhiều thành công to lớn khi tích cực đầu tư vào con người bằng cách tăng cường đào tạo, bổ sung kỹ năng. Tương tự, nếu bạn chủ động lôi kéo nhân viên của mình vào quy trình quản lý chi phí, bạn sẽ tận dụng tốt nhất kỹ năng của họ. Nếu bạn chủ động tìm kiếm những gợi ý từ nhân viên của mình, bạn sẽ ngạc nhiên về những ý tưởng để tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.

4. Quản lý chi phí nên là một phần của chiến lược kinh doanh

Mỗi công ty cần có một chiến lược kinh doanh dài hạn và quản lý chi phí nên là một phần của chiến lược đó cũng như chịu ảnh hưởng của chiến lược. Các quyết định liên quan đến chi phí nên được đo lường dựa trên chiến lược của công ty, thay vì tình hình ngắn hạn hiện tại.

Ví dụ, một công ty không nên mua quá nhiều hàng hóa và để lưu kho trong thời gian dài vừa tốn chi phí kho bãi, vừa tốn nhân lực trông coi. Trong chiến lược của công ty chỉ nên mua với số lượng vừa đủ để đáp ứng nhu cầu khách hàng.

5. Cắt giảm chi phí ngay trong các hoạt động thường nhật của doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp nên biết rằng không có cách nhanh nhất để tiết kiệm chi phí mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, nhưng bạn có thể thực hiện một số thay đổi đơn giản để có hiệu quả ngay lập tức. Một số chi phí nhỏ có thể được cắt giảm mà ít gây ra rủi ro nhất đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bao gồm:

  • Ban hành quy định và quy chế thưởng phạt với các hành vi gây lãng phí không cần thiết như bật điều hòa khi không có người, bật đèn khi trời vẫn sáng…
  • Tìm kiếm nhà cung cấp rẻ hơn, những người vẫn sẽ cung cấp cho bạn chất lượng sản phẩm/ dịch vụ tương tự nhưng với chi phí thấp hơn nhà cung cấp hiện tại.
  • Chỉ sử dụng các dịch vụ cao cấp khi đi công tác, tiếp khách trong trường hợp thực sự cần thiết.
  • Kiểm tra hóa đơn của nhà cung cấp một cách cẩn thận để tính phí quá mức. Hãy loại bỏ tình trạng dư thừa rõ ràng, ví dụ như trả tiền thuê trên đường dây điện thoại dự phòng, đăng ký không cần thiết, v.v.

6. So sánh với các doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực kinh doanh

Việc cần làm là so sánh mức chi tiêu của doanh nghiệp với mức chi tiêu trung bình của các doanh nghiệp khác cùng lĩnh vực kinh doanh. Nhưng làm thế nào để thực hiện được phép so sánh này?

Cách duy nhất là định kỳ xem lại những gì bạn đang làm và cách bạn đang làm nó.

7. Thực hiện khảo sát khách hàng

Doanh nghiệp có thể thực hiện các cuộc khảo sát khách hàng để hỏi về những sản phẩm/ dịch vụ doanh nghiệp đang cung cấp không thực sự cần thiết với khách hàng.

Ví dụ, doanh nghiệp không cần thiết phải giao hàng vào thời gian cao điểm hay không cần thiết phải dành tới hai lơp bao bì đắt tiền cho sản phẩm…

Khách hàng của bạn là những người tốt nhất để cho bạn biết yếu tố nào trong sản phẩm/ dịch vụ của bạn là quan trọng đối với họ và phần nào là dư thừa so với yêu cầu của họ.

8. Xem lại tài chính của bạn

Doanh nghiệp có thể thực hiện cắt giảm vốn lưu động thông qua việc mua hàng đúng lúc, kiểm soát tín dụng tốt hơn và đồng ý các điều khoản thanh toán dài hơn với các nhà cung cấp của bạn. Hay xem xét các khoản vay lãi suất thấp thay vì thấu chi – và loại bỏ mọi khoản vay hoặc thấu chi không cần thiết trên đầu.

Tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng của bạn bằng cách suy nghĩ về việc cho thuê không gian trống cũng là cách để quản lý chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.

Quản lý chi phí kinh doanh là một bài toán khó nhưng không phải không có đáp án. Doanh nghiệp cần tận dụng tối đa nguồn lực cũng như tham khảo 8 cách trên để đạt được hiệu quả mong muốn!

Nguồn Sưu tầm

Рубрики
Blog DDP Lãnh đạo và quản trị

Để trở thành một nhà lãnh đạo tư tưởng, trước hết bạn phải “biết nghĩ”

Lướt LinkedIn, bạn sẽ thấy một tá bạn bè tự nhân mình là những nhà lãnh đạo tư tưởng. Nhưng việc tự gọi mình như vậy có khiến bạn thực sự trở thành một nhà lãnh đạo tư tưởng? Để trở thành một nhà lãnh đạo tư tưởng thực sự, bạn cần phải biết… SUY NGHĨ. Hay đúng hơn là bạn cần phải có những quan điểm sống rõ ràng và khác biệt so với phần còn lại của thế giới.

Dưới đây là ba đặc điểm của các nhà lãnh đạo tư tưởng thực sự. Hãy đọc, ngẫm và rèn luyện để trở thành một nhà lãnh đạo tư tưởng cho các nhân viên của bạn.

Họ luôn luôn có cho mình một nhiệm vụ phải làm

Greta Thunberg – Một nhà hoạt động vì môi trường người Thụy Điển luôn có cho mình một nhiệm vụ rõ ràng, đó là chống lại biến đổi khí hậu. Năm vừa qua, Thunberg một mình đứng trước quốc hội Thụy Điển để thảo luận về vấn đề này. Nhiệm vụ anh tự đặt ra cho mình đã khơi dậy một cuộc biểu tình mạnh mẽ, nơi người ta kêu gọi nhau đối xử tử tế hơn với trái đất. Điều đó minh họa cho việc một người hết mình thực hiện nhiệm vụ mà họ tự đề ra có thể truyền cảm hứng hành động cho những người xung quanh như thế nào.

Bạn có thể áp dụng đặc điểm này của một nhà lãnh đạo tư tưởng trong kinh doanh ra sao? Tự tìm cho mình một nhiệm vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty và dùng hết nhiệt huyết của mình để thực hiện nó, và bạn sẽ nhanh chóng trở thành một tấm gương sáng tiếp lửa hừng hực cho nhân viên (hay đồng nghiệp) của bạn.

Họ luôn luôn sẵn sàng để đấu tranh

Đầu năm nay, chủ tịch của Ellevest – Sallie Krawcheck đã viết một bài luận cực kỳ nổi tiếng trên trang op-ed của chính tạp chí Ellevest – “Just buy the f***ing latte”. Quan điểm mà cô đưa ra trong bài luận của mình là phụ nữ cần phải học cách tự tiết kiệm tiền bạc, từ bỏ những thói quen phù phiếm thay vì mãi theo đuổi sự giàu có và tốn tiền cho những thứ xa xỉ không xứng đáng.

Quan điểm khác biệt của Krawcheck chính là chìa khóa thu hút sự chú ý cho nhiệm vụ thách thức những bất công do khác biệt giới tính trong kinh doanh của cô. Để trở thành một nhà lãnh đạo tư tưởng thực sự, bạn phải giống như Sallie Krawcheck, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và mạnh mẽ bày tỏ quan điểm cá nhân, ngay cả khi quan điểm ấy mới mẻ, lạ lẫm và có vẻ như đang chống lại những quan điểm truyền thống đã được rất nhiều người chấp nhận.

Trong kinh doanh, nếu bạn phát hiện một lối mòn vận hành kém hiệu quả nào đó và cảm thấy cần phải thay đổi nó để doanh nghiệp phát triển tốt hơn, hãy dũng cảm tuyên chiến với cái cũ và phấn đấu hết mình vì cái mới.

Họ luôn luôn đặt ra những câu hỏi

Các nhà lãnh đạo tư tưởng thực sự làm nhiều hơn là nói. Họ liên tục đặt câu hỏi và đào sâu vào lĩnh vực mà mình quan tâm để phát triển kiến thức, đưa sứ mệnh của mình lên một tầm cao mới.

Khi bạn xây dựng nền tảng cho sự nghiệp lãnh đạo tư tưởng của mình, hãy liên tục đặt câu hỏi về những gì bạn muốn làm và cần phải làm để đạt được thứ bạn muốn. Ví dụ: Những nhà lãnh đạo tư tưởng đầy tham vọng thường tự hỏi: Sứ mệnh của mình là gì? Sự thay đổi mà mình muốn thực hiện trên thế giới là gì? Quan điểm khác biệt, thậm chí là trái chiều nào mình có thể phát biểu để khơi dậy những cuộc thảo luận trên quy mô lớn? Những câu hỏi này, cùng với câu trả lời đi kèm với nó, chính là kim chỉ nam dẫn dắt bạn bước đi trên con đường trở thành một nhà lãnh đạo tư tưởng trong lĩnh vực của bạn.

Nguồn sưu tầm

Рубрики
Blog DDP Lãnh đạo và quản trị

Lời khuyên dành cho nhà lãnh đạo: Hợp tác làm nên thành công

Các nhà lãnh đạo thường đạt được thành công bằng cách bắt đầu hành động sớm hơn và nhanh hơn người khác để có thể đạt được lợi thế cạnh tranh trên thương trường. Nhưng với những người không đủ tự tin để tạo ra điều khác biệt, họ thường hiểu sai về cách người thành công giành chiến thắng trong các cuộc chơi.

Trong thực tế, để thành công trong kinh doanh hay trong bất kỳ mục tiêu nào cũng sẽ cần xây dựng những mối quan hệ cộng tác. Nếu thuần thục được kỹ năng này bạn sẽ có được lợi thế hợp tác – một điều khiến các lãnh đạo trở nên khác biệt trong thị trường đông đúc. Việc xây dựng những mối quan hệ hợp tác sẽ cho phép những người có tham vọng và năng lực chuyên môn khác nhau có thể vừa làm tốt nhất công việc của họ, vừa tiến tới một mục tiêu chung lớn lao hơn.

Câu tục ngữ sau thể hiện rất đúng một quy luật vốn có của cuộc sống: Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Dựa theo nguyên tắc đó, bài viết dưới đây sẽ chỉ ra 4 điều cơ bản cần xem xét khi bạn muốn hợp tác với những người cùng chung chí hướng với mình, dù là theo cách trực tiếp hay gián tiếp.

Nguyên tắc số 1: Coca-Cola luôn cần Pepsi

Điều đầu tiên bạn cần phải nhớ khi bắt đầu quá trình hợp tác của mình, đó là bạn luôn cần có các đối thủ. Giống như cách Coca-cola và Pepsi luôn cần có nhau để cùng phát triển. Những người làm việc một mình quá lâu mà không có sự cạnh tranh với đối thủ sẽ dần đánh mất lợi thế của mình và phát triển ngày càng chậm chạp hơn.

 

Tuy nhiên, các công ty lớn thường quên đi nguyên tắc này khi họ sử dụng tiềm lực chính trị của mình để loại bỏ những đối thủ mới gia nhập vào thị trường. Các nhà lãnh đạo độc lập cũng không tránh khỏi điều này khi họ luôn được bao quanh bởi những kẻ xu nịnh không bao giờ phản đối ý kiến của họ. Chủ nghĩa bảo hộ trên bất kỳ quy mô nào cũng đều sẽ giết chết sự đổi mới. Nhưng điều này không có nghĩa là bạn nên giúp đỡ đối thủ của mình hoặc bảo vệ họ khỏi các tác nhân thị trường, bởi điều này sẽ chỉ đem lại kết quả tồi tệ hơn mà thôi.

Một cách tiếp cận tốt hơn là bạn phải tìm ra một thị trường ngách phù hợp với doanh nghiệp của mình và chiếm lĩnh thị trường đó nhiều nhất có thể. Và nếu các đối thủ của bạn có thể làm điều đó một cách tốt hơn thì hãy học hỏi từ họ và điều chỉnh lại chiến lược của mình. Điều này có thể sẽ khiến cả hai bên. đều được hưởng những lợi ích lớn lao hơn về lâu về dài

Nguyên tắc số 2: Thị trường kết nối các doanh nghiệp

Mặc dù là đối thủ nhưng Coca-cola và Pepsi hiểu nhau rất rõ. Tuy nhiên những người hoàn toàn xa lạ cũng có thể hợp tác với nhau thông qua sức mạnh của thị trường.

Điều này xảy ra với mọi giao dịch liên quan đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Người mua đưa tiền để mua nguyên liệu thô, sau đó nguyên liệu này sẽ trở thành bộ phận cấu thành, và cuối cùng trở thành sản phẩm hoàn chỉnh. Các mặt hàng phức tạp như xe hơi hoàn toàn có thể được tạo nên bởi hàng ngàn người ở hàng chục quốc gia khác nhau trên thế giới. Họ không cần phải nói cùng một ngôn ngữ, ăn cùng một loại thực phẩm hoặc theo cùng một tôn giáo giống nhau. Họ dựa vào nhau và hợp tác bằng cách mở rộng mối quan hệ.

Các giao dịch đơn giản hơn cũng hoạt động theo cách tương tự. Sẽ không có thỏa thuận nào được thực hiện cho đến khi cả hai bên cùng từ bỏ một thứ gì đó họ muốn cho thứ họ muốn hơn. Người bán muốn có tiền còn người mua lại muốn có hàng hóa và dịch vụ. Nếu đạt được những điều này, cả hai bên đều sẽ ra về trong chiến thắng và thỏa mãn vì những gì họ nhận được sau thương vụ

Thị trường kết nối các doanh nghiệp

.

Nguyên tắc số 3: Giá trị được tạo ra nhờ hợp tác kinh doanh

Một số người thường coi kinh doanh là một điều gì đó lạnh lùng hoặc tàn nhẫn khi nó đào thải các cá nhân hoặc công ty ra khỏi thị trường. Phá sản và thất nghiệp là những điều mà không ai mong muốn, nhất là khi người ra đi lại chính là bạn. Nhưng thị trường khốc liệt không có gì để đảm bảo sự ổn định cho tất cả mọi người. Bạn phải chắc chắn rằng mình là người tiếp tục tạo ra giá trị và thành công cho những người khác.

Những người không có khả năng hợp tác sẽ bị bỏ lại phía sau trong mọi cuộc đua

Mục tiêu hàng đầu của việc hợp tác là cung cấp càng nhiều giá trị cho càng nhiều người càng tốt. Ngược lại, những người không có khả năng hợp tác sẽ bị bỏ lại phía sau trong mọi cuộc đua. Người ta hay gọi “quá trình” là sự phá hủy sự sáng tạo bởi nó cho phép xã hội thay thế những ý tưởng tốt bằng những ý tưởng tốt hơn. Đó là lý do tại sao ngày nay mọi người di chuyển bằng xe ô tô thay vì xe ngựa. Cho dù sự thay đổi có thể vô cùng khắc nghiệt, nhưng nó là yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển của con người.

Nguyên tắc số 4: Những người thành công truyền cảm hứng tốt nhất

Các bậc thầy trong việc hợp tác thường tìm thấy niềm vui từ việc mở rộng hợp tác với những người có cùng chí hướng. Chẳng hạn, họ lấy cảm hứng từ các đối thủ, những người sẵn sàng chỉ ra được điểm yếu của họ. Họ chạy theo xu hướng thị trường để được hướng dẫn bởi những người có nhiều kinh nghiệm. Và họ cùng với nhóm của mình, luôn hợp tác với những đồng minh, những người sẽ cùng với họ tạo ra những ý tưởng làm nên thành công. Họ chủ động làm tất cả những điều này để đạt được lợi ích tối đa cho doanh nghiệp của mình.

Một số người nghĩ rằng thành công trong kinh doanh chủ yếu là về việc làm thế nào để triệt hạ đối thủ cạnh tranh. Nhưng những nhà lãnh đạo có tầm thường đạt được thành công bằng việc làm cho doanh nghiệp và đồng minh của mình trở nên càng lớn mạnh càng tốt.

Những người này có khả năng làm hài lòng tất cả những ai có liên quan. Và đó cũng chính là năng lực cốt lõi của họ, lợi thế cạnh tranh thực sự của họ mà không phải nhà lãnh đạo nào cũng có thể có được.

Nguồn sưu tầm

Рубрики
Lãnh đạo và quản trị Tài chính

CHÌA KHÓA «ỔN ĐỊNH» TÀI CHÍNH: GIẢM CHI PHÍ HAY TĂNG DOANH THU

  1. Hiểu lợi nhuận

Điều quan trọng là phải hiểu các chỉ số cơ bản về khả năng sinh lời , chẳng hạn như chênh lệch giữa lợi nhuận và biên lợi nhuận .

Lợi nhuận là số tiền mà một doanh nghiệp kiếm được sau khi tính tất cả các chi phí. Biên lợi nhuận được tính bằng thu nhập ròng chia cho doanh thu. Tỷ suất lợi nhuận được thể hiện dưới dạng phần trăm và thực tế, đo lường số tiền của mỗi đô la doanh thu mà một công ty thực sự giữ trong thu nhập.

Giảm chi phí hoặc tăng doanh thu có thể thêm vào lợi nhuận của công ty – con số lợi nhuận ròng – nhưng nó có thể không cải thiện biên lợi nhuận ròng của công ty.

  1. Tác động của việc tăng doanh thu

Hãy xem xét một công ty giả định làm tăng doanh thu hàng năm từ 1 triệu đô la lên 2,2 triệu đô la bằng cách tăng nhân viên bán hàng của mình từ 5 đến 15 người với mức lương trung bình là 100.000 đô la mỗi người. Doanh thu thêm 1,2 triệu đô la chỉ mang lại thêm 200.000 đô la lợi nhuận ròng và thực sự làm giảm biên lợi nhuận gần 20%.

Công ty phải giải quyết câu hỏi liệu lợi nhuận thấp hơn có được chấp nhận để bù lại lợi nhuận tuyệt đối của đồng đô la hay không, vì lợi nhuận thấp hơn có thể không cung cấp đủ tài chính để đảm bảo khả năng tồn tại của công ty. Công ty có thể có thêm đô la trong ngân hàng, nhưng có thể trong tình trạng tài chính kém lành mạnh hoặc kém an toàn hơn.

  1. Tác động của giảm chi phí

Giảm chi phí làm tăng lợi nhuận, nhưng chỉ khi giá bán và số lượng bán hàng vẫn không đổi. Nếu giảm chi phí dẫn đến giảm chất lượng sản phẩm của công ty, thì công ty có thể buộc phải giảm giá để duy trì cùng mức doanh thu. Điều này có thể quét sạch bất kỳ lợi nhuận tiềm năng nào và dẫn đến thua lỗ ròng.

Một tác động tiêu cực hơn có thể dẫn đến thời gian từ việc mất thị phần dần dần khi việc giảm chất lượng làm cho nó không thể duy trì số liệu bán hàng. Tuy nhiên, nếu một công ty có thể cắt giảm chi phí một cách hiệu quả mà không ảnh hưởng đến chất lượng, giá bán hoặc số liệu bán hàng, thì điều đó mang lại một con đường dẫn đến lợi nhuận cao hơn.

  1. Chiến lược tăng lợi nhuận

Một yếu tố khác cần xem xét là liệu việc tăng doanh thu hay giảm đáng kể chi phí là một lựa chọn khả thi. Một công ty có thể đã hoạt động gần hiệu quả tối đa trong việc giảm chi phí, đã thương lượng giá tốt nhất có thể cho vật liệu, nhân sự và cơ sở vật chất. Liên quan đến việc tăng doanh thu, một công ty có thể đang ở trong một thị trường cạnh tranh, hoặc một nền kinh tế chán nản – tăng số lượng bán hàng hoặc tăng giá không phải là mục tiêu thực tế.

Một chiến lược để tăng lợi nhuận thông qua tăng doanh thu là chỉ huy giá cao hơn thông qua xây dựng thương hiệu thành công . Ví dụ về thành công như vậy là các công ty cổ điển như Coca-Cola hoặc Sony, hoặc các nhà bán lẻ cao cấp như Abercrombie & Fitch hoặc Victoria’s Secret. Các công ty này đã thiết lập danh tính cho phép họ chỉ huy giá cao hơn đáng kể so với đối thủ cạnh tranh trong khi đồng thời tăng thị phần và duy trì trạng thái thị trường cao cấp ngay cả trong suy thoái kinh tế.

Tập trung vào chất lượng và thương hiệu là phương tiện để tăng doanh thu và củng cố cơ sở khách hàng có thể là con đường chắc chắn nhất của công ty đối với sự thịnh vượng lâu dài.

Рубрики
Lãnh đạo và quản trị

Quản trị tài chính doanh nghiệp: Sai một ly là đi… ngàn dặm!

Quản trị tài chính doanh nghiệp: sai một li là đi…ngàn dặm!

Thị trường ngày nay đang đối mặt với tình trạng đáng báo động khi rất nhiều công ty đã đang và có nguy cơ phá sản vì quản trị tài chính lỏng lẻo. Thay vì cầm dao đằng chuôi thì các lãnh đạo lại đang “cầm dao đằng lưỡi” vì không giải quyết triệt để vấn đề tồn đọng trong tài chính.

Công nghiệp 4.0 mở ra thời đại hoàng kim cho lĩnh vực kinh doanh chính vì thế số lượng các doanh nghiệp cũng mọc lên như nấm. Tuy nhiên bên cạnh đó, số công ty “chết yểu” cũng bám theo sát nút. Và nguyên do được nhận định chủ yếu là do lỗ hổng trong quản trị tài chính.

Những lỗ hổng đó xuất phát từ đâu?

Tác động bên ngoài: Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh nhất định và bị ảnh hưởng một phần nhỏ khi bên ngoài thay đổi. Ví dụ như sự bất ổn định của nền kinh tế hay giá cả thị trường biến thiên tăng giảm…Nhưng đó chỉ là thứ yếu vì nó đều có thể giải quyết dễ dàng nếu có sự chuẩn bị trước. Chủ yếu lỗ hổng đang xuất phát từ chính bản thân doanh nghiệp, cái mà có chuẩn bị cũng không xử lý được hậu quả.

Lãnh đạo giao toàn quyền cho kế toán:

Ngày nay, có thể nhận thấy ở nhiều cơ quan và doanh nghiệp Việt Nam là các thủ trưởng đơn vị, các giám đốc chưa có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực quản lý tài chính .Vì bản thân họ có thể xuất thân là kỹ sư xây dựng, cơ khí, giáo viên, bác sĩ… với chuyên môn không liên quan đến quản trị tài chính. Vì vậy, tuy là người nắm giữ két tiền của doanh nghiệp nhưng việc quản lý tiền nong hoàn toàn phụ thuộc vào bộ phận kế toán, họ báo sao thì biết vậy mà không hề kiểm tra và không nắm rõ được nội dung đằng sau của các con số. Chính vì thế, nhiều doanh nghiệp rơi vào cảnh “lâm li bi đát”, bản thân thất thoát một đống tiền rất lớn nhưng lại hoàn toàn không nắm rõ.

Kế hoạch kinh doanh sai lầm:

Từng có nhiều doanh nghiệp đang thành công rực rỡ. Nhưng, doanh nghiệp lại đang ngụp lặn trong nợ nần và kiện cáo, nguồn tài chính cạn kiệt, các dự án nằm đắp chiếu, từ một công ty lớn nay chỉ còn vài chục lao động với số tiền nợ bảo hiểm xã hội hơn hàng tỷ đồng..

Vì sao từng “làm mưa làm gió” trên thị trường lại rơi vào tình cảnh này? Nguyên nhân chính đến từ việc “định hướng và xây dựng phương án kinh doanh không chính xác đã dẫn đến hệ lụy lớn và kéo dài khiến công ty không thể vực dậy trong nhiều năm”.

Từ đó ta có thể thấy tầm quan trọng của việc lập kế hoạch kinh doanh trong tài chính. Vì chỉ sảy chân một lần cũng có thể kéo công ty đến hồi kết, từ công ty vừa và nhỏ cho đến cả những doanh nghiệp lớn với kinh nghiệm nhiều năm trên thương trường.

Nguồn : Sưu tầm